Ho do co thắt phế quản là các thuốc với thành phần chứa salbutamol và guaiphenesin.
Salbutamol
là một chất chủ vận chọn lọc trên thụ thể b 2 adrenergic. Ở liều điều
trị thuốc tác động trên các thụ thể b 2 adrenergic của cơ trơn phế quản,
salbutamol không có tác dụng hay ít tác dụng trên các thụ thể b1
adrenergic của cơ tim. Việc kết hợp giữa salbutamol và guaiphenesin có
tác dụng làm giảm co thắt đường hô hấp và cải thiện sự thông khí phổi.
Tuy nhiên những thuốc giãn phế quản không phải điều trị chủ yếu và duy
nhất ở những bệnh nhân bị hen nặng và không ổn định mà thường phối hợp
với nhóm corticoid dạng uống hoặc dạng xịt. Sau khi uống, salbutamol
được hấp thu từ đường tiêu, hóa và bước đầu chuyển hóa thành phenolic
sulphat. Bài tiết chủ yếu qua thận và phần lớn dưới dạng chất chuyển hóa
không hoạt tính 4´0 sulphate (phenolic sulphat) mà chất chuyển hóa này
cũng được bài tiết chủ yếu qua nước tiểu. một phần nhỏ được bài tiết qua
phân. Thuốc được chỉ định trong các trường hợp bệnh lý đường hô hấp có
co thắt phế quản và tăng tiết đờm nhầy. Chống chỉ định dùng ventolin
expectorant với bệnh nhân dị ứng với thành phần của thuốc. Thận trọng ở
những bệnh nhân nhiễm độc tuyến giáp. Thuốc có nguy cơ làm hạ kali huyết
nặng, nên kiểm tra kali huyết trong những trường hợp hen nặng cấp tính
do độc tính, thuốc có thể tăng lên khi sử dụng kết hợp với các dẫn xuất
của xanthine, steroid, thuốc lợi tiểu và tình trạng thiếu ôxy. Cũng
giống như các chất chủ vận thụ thể b adrenegic khác, salbutamol có thể
thay đổi chuyển hoá có hồi phục, ví dụ tăng đường huyết. Salbutamol bài
tiết vào sữa mẹ và qua rau thai nên trong giai đoạn có thai hoặc cho con
bú chỉ sử dụng khi lợi ích mang lại cho người mẹ vượt trội hơn bất kỳ
nguy cơ nào đối với thai nhi hoặc trẻ nhỏ.
Thuốc có thể gây run nhẹ cơ vân, giãn mạch ngoại vi, tăng nhịp tim nhẹ.

Thuốc
chống dị ứng là các kháng histamin H1: fexofenadin, chất chuyển hóa của
terphenadin, là một chất kháng histamin có tác dụng đối kháng chọn lọc ở
thụ thể H1 ngoại biên. Fexofenadin ức chế sự co phế quản do kháng
nguyên gây nên và ức chế phóng thích histamin từ dưỡng bào. Sau khi uống
fexofenadin được hấp thu nhanh và thời gian đạt được nồng độ tối đa
trong huyết tương là 1 - 3 giờ. Fexofenadin được chuyển hoá không đáng
kể ở gan và ngoài gan, được đào thải chủ yếu qua mật, 10% được thải qua
nước tiểu ở dạng không đổi. Vì thuốc không chuyển hoá ở gan nên thuốc
không tương tác với các thuốc khác khi qua gan. Dùng phối hợp
fexofenadin với erythromycin hoặc ketoconazol làm tăng nồng độ thuốc
trong huyết tương gấp 2 - 3 lần.
Hoặc
các thuốc có triprolidin hydrochlorid và pseudoephedrin hydrochlorid,
có thể có thêm dextromethorphan bromhydrate trong thành phần.
Triprolidin
làm giảm triệu chứng ở những bệnh nhân được xem là phụ thuộc hoàn toàn
hay một phần vào sự phóng thích ồ ạt histamin, có tác động trên thụ thể
H1 của histamin với tác động ức chế nhẹ thần kinh trung ương, có thể gây
buồn ngủ
Pseudoephedrin có tác động
giống giao cảm trực tiếp và gián tiếp, là một chất làm giảm sung huyết
hữu hiệu ở đường hô hấp trên nhưng lại ưu việt hơn ephedrin ở chỗ ít gây
nhịp tim nhanh, tăng huyết áp cũng như kích thích hệ thần kinh trung
ương.
Dextromethorphan là dẫn xuất
của morphin có tác dụng chống ho. Nó kiểm soát co thắt cơ do ho bằng
bằng cách ức chế trung tâm ho ở hành tủy.
Tác
dụng phụ: ức chế hoặc kích thích hệ thần kinh trung ương với ngủ gà,
choáng váng và chóng mặt, hiếm gặp rối loạn giấc ngủ và ảo giác. Nhịp
tim nhanh, khô miệng, mũi họng, táo bón, buồn nôn và nôn.
Thuốc
giảm ho do long đờm:carbocisteine là một dẫn xuất của một acid amin,
cysteine trong nhóm sulfohydryl bị khoá bởi gốc acid carboxylic.
Carbocisteine thay đổi sự chuyển hoá của tế bào tiết nhầy bằng cách hoạt
hoá men sialyltransferase và ức chế men neuraminidase, tiết ra nhiều
sialomucine ít nhầy nhớt hơn trong khi giảm các thành phần nhiều nhầy
nhớt fucomucin.
Thuốc ức chế trung tâm ho: có chứa codein base, terpine hydrate và benzoat de sodium.
Codein là alkaloid của cây thuốc phiện, thuốc ho tác dụng lên hệ thần kinh trung ương, ức chế trung tâm hô hấp.
Terpin: thuốc long đờm, tác dụng bằng cách kích thích tế bào bài tiết của đường hô hấp.
Benzoat
de sodium: thuốc long đờm. Tác dụng bằng cách kích thích trực tiếp lên
tuyến thanh dịch của phế quản. Điều trị triệu chứng ho khan, chống chỉ
định trong suy hô hấp cấp và hen phế quản.
(Theo ThS. Phạm Bích Đào // Suckhoe & Doi song)