Bệnh Tay – Chân – Miệng đang là dịch bệnh nóng. Theo Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến, từ đầu năm cho đến nay, bệnh tay chân miệng lan nhanh và nhiều diễn biến phức tạp. Tính đến thời điểm tháng 08/2011, cả nước có 32.558 ca mắc bệnh tay chân miệng xuất hiện tại 52 địa phương, làm tử vong 81 ca ở 17 tỉnh, thành. Tính tổng số ca mắc bệnh từ đầu năm đến thời điểm hiện tại thì bệnh tay chân miệng đã tăng lên 300% so với những năm trước đó, riêng số ca bệnh tử vong tăng lên rất nhiều lần. Do đó Bộ trưởng khẳng định: “Bệnh tay chân miệng đến thời điểm này đã bùng phát thành dịch”.
Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi khiến không ít các bà mẹ lo lắng. Các yếu tố sinh hoạt tập thể như trẻ đi học tại nhà trẻ, mẫu giáo, đến các nơi trẻ chơi tập trung là các yếu tố nguy cơ lây truyền bệnh. Phòng chống và đẩy lùi bệnh đang là yêu cầu cấp thiết và là mối quan tâm không phải của riêng ai.
Nguyên nhân gây bệnhBệnh do một nhóm virus thuộc nhóm Enterovirus gây nên. Tác nhân thường gặp nhất là Coxsackievirus A16, đôi khi do Enterovirus 71 (EV71) và các virus ruột khác. Bệnh lây lan từ trẻ này sang trẻ khác từ các chất tiết mũi, miệng, phân, nước bọt lúc trẻ ho, hắt hơi.
Các biểu hiện của bệnh
- Giai đoạn ủ bệnh: 3-7 ngày.
- Giai đoạn khởi phát: Từ 1-2 ngày với các triệu chứng như sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng, biếng ăn, tiêu chảy vài lần trong ngày.
- Giai đoạn toàn phát: Có thể kéo dài 3-10 ngày với các triệu chứng điển hình của bệnh: Loét miệng: vết loét đỏ hay phỏng nước đường kính 2-3 mm ở niêm mạc miệng, lợi, lưỡi. Phát ban dạng phỏng nước: Ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông (tồn tại trong thời gian ngắn, dưới 7 ngày) sau đó để lại vết thâm rất hiếm khi loét hay bội nhiễm. Ngoài ra trẻ có thể bị sốt nhẹ, nôn…
Phân độ nặng của bệnh• Độ 1: chỉ có loét miệng và hoặc sang thương ở da.
• Độ 2: rung giật cơ, bức rức, chới với.
• Độ 3: yếu liệt chi, liệt các dây thần kinh sọ, co giật, hôn mê.
• Độ 4: suy hô hấp, phù phổi, tăng huyết áp, trụy mạch.
Các biến chứng của bệnhBiến chứng thường gặp là: viêm màng não, viêm não màng não, liệt mềm cấp, viêm cơ tim, phù phổi cấp do thần kinh
Các biến chứng có thể phối hợp với nhau như: viêm não màng não, phù phổi và viêm cơ tim trên cùng một bệnh nhân.
Các biến chứng này thường gây tử vong cao và diễn tiến rất nhanh có thể trong 24 giờ.
Nghiên cứu cho thấy biến chứng nặng thường do Enterovirus 71.
Biểu hiện biến chứng viêm não màng não: Không có biểu hiện mê sâu . Biểu hiện ban đầu bằng các triệu chứng quấy khóc, ngủ nhiều, hoảng hốt hay giật mình run chi, yếu chi, đứng không vững, đi loạng choạng. Diễn tiến rất nhanh đến co giật, khó thở, suy hô hấp, rối loạn vận mạch, sốc thần kinh.
Chẩn đoán Để chẩn đoán các ca bệnh tay - chân - miệng, cán bộ y tế cần dựa vào triệu chứng lâm sàng và dịch tễ học, như căn cứ vào tuổi, mùa, vùng lưu hành bệnh, số trẻ mắc bệnh trong cùng một thời gian và các nốt phỏng nước điển hình ở miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông, kèm sốt hoặc không. Còn để chẩn đoán xác định cần xét nghiệm RT-PCR hoặc phân lập có vi rút gây bệnh.
Điều trị bệnhHiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, nên các trẻ bị tay chân miệng chỉ điều trị hỗ trợ.
Điều trị triệu chứng: Theo dõi sát, phát hiện sớm các triệu chứng của biến chứng để cho trẻ nhập viện.
Điều trị tại nhà: chỉ điều trị tại nhà những trẻ bị bệnh tay chân miệng độ I.
• Hạ sốt, giảm đau: dùng paracetamol 10 -15mg/kg cân nặng/ mỗi 4 – 6 giờ, chỉ sử dụng khi trẻ sốt từ 380C trở lên.
• Vệ sinh răng miệng bằng cách cho trẻ súc miệng với nước muối pha loãng.
• Nghỉ ngơi, bổ sung dinh dưỡng đầy đủ cho trẻ.
• Sử dụng thêm các vitamin C, vitamin PP, vitamin A và kẽm theo toa bác sĩ để hỗ trợ cho da, niêm mạc mau lành.
• Dùng kháng sinh theo toa bác sĩ khi có bội nhiễm.
• Tái khám mỗi 1-2 ngày trong 7 ngày đầu của bệnh.
Theo dõi các dấu hiệu nặng: khi có một trong các triệu chứng sau: sốt cao trên 39oC, giật mình liên tục, run chi, chới với, quấy khóc, bứt rứt, co giật thì người nhà cần đưa bé vào bệnh viện ngay.
Dinh dưỡng trong bệnh tay chân miệngTrẻ bị bệnh tay chân miệng thường rất biếng ăn, thậm chí có thể bỏ ăn do các vết loét trong niêm mạc miệng gây đau. Vì vậy, thức ăn cho trẻ cần chọn lựa sao cho mềm, mịn, mát lạnh nhằm tạo cảm giác dễ chịu khi thức ăn, thức uống đi ngang qua vết loét. Như vậy, những thực phẩm có thể dùng cho trẻ là: bột dinh dưỡng, sữa, sữa chua, phô mai, bánh Flan…
Nếu trẻ ăn kém, nên cho trẻ ăn nhiều lần hơn lúc bình thường để tránh tình trạng hạ đường huyết có thể xảy ra. Cần chú ý muỗng (thìa) dùng để đút cho trẻ nên tránh những loại có cạnh sắc bén, để không đụng vào các vết loét ở đầu lưỡi và môi làm bé đau dẫn đến sợ hãi, không ăn. Khi trẻ giảm bệnh (thường là sau 4 – 5 ngày) nên cho bé ăn trở lại bình thường, không kiêng khem.
Cần cho bé uống nhiều nước, nhất là khi còn sốt.
Không nên cho bé uống các loại nước ép và soda bởi vì hàm lượng axit cao, sẽ gây ra đau rát ở vết loét. Tránh thức ăn mặn hoặc cay.
Cho bé dùng các thực phẩm lạnh như sữa lạnh, kem sẽ giúp bé bớt đau khi nuốt. Chọn thức ăn mềm, không cần phải nhai nhiều.
Chăm sóc trẻ bị bệnhTrẻ ốm phải được nghỉ học và không tiếp xúc với trẻ khác. Tránh làm vỡ các nốt phỏng của trẻ. Thu gom xử lý phân bằng chloramin B hoặc vôi bột. Luộc sôi hoặc ngâm dung dịch chloramin B (0,5%) quần áo, tã lót của trẻ trước khi giặt sạch.
Người chăm sóc trẻ phải rửa tay nhiều lần trong ngày, nhất là trước khi chế biến thức ăn, trước khi cho trẻ ăn và sau khi vệ sinh cho trẻ. Thường xuyên vệ sinh đồ chơi, sàn nhà bằng xà phòng hoặc các chất sát khuẩn thông thường hoặc chloramin B.
Phòng bệnh
Luôn rửa tay cẩn thận: Hãy rửa tay thường xuyên, đặc biệt sau khi sử dụng nhà vệ sinh hoặc thay tã, trước khi chuẩn bị thực phẩm và ăn uống. Khi không có sẵn xà phòng và nước, có thể dùng khăn lau tay hoặc gel có tẩm cồn diệt khuẩn.
Rửa sạch đồ chơi, vật dụng, sàn nhà bằng dung dịch sát khuẩn.
Cho trẻ ăn chín, uống chín. Không ăn chung thìa bát.
Cách ly trẻ đang mắc bệnh. Cho trẻ nghỉ học trong thời gian bị bệnh. Thời gian cách ly tối thiếu là cho đến khi các mụn nước đã khô hẳn, thường là 1 tuần.