Tử cung (TC) với vai trò là cái nôi
làm tổ cho thai nhi phát triển, đồng thời là nơi ra kinh hàng tháng có
chu kỳ của nữ giới. Với vai trò quan trọng đó, TC cũng là nơi có nhiều
biến cố thăng trầm nhất trong bệnh lý sản phụ khoa.
Tử cung có cấu trúc như thế nào?
Cấu
trúc của TC về phương diện giải phẫu học nằm trong tiểu khung, hình quả
lê, cấu tạo bởi 3 lớp, tính từ ngoài vào trong gồm có lớp thanh mạc nằm
ở ngoài cùng, kế tiếp là lớp cơ trơn và trong cùng là lớp nội mạc (NM)
TC.
NMTC được cấu tạo bởi biểu mô lát tầng, chịu ảnh hưởng bởi nội tiết tố sinh dục hàng tháng của cơ thể.

Polype nội mạc tử cung
Đây
là một dạng lành tính, phát triển từ tổ chức NMTC, kích thước rất khác
nhau, khối polype có thể choán chỗ toàn bộ buồng TC, có thể một hay
nhiều polype. Bản chất của polype giống như cấu tạo của NMTC.
Khoảng
6 - 10% số người bệnh không có triệu chứng, chỉ chẩn đoán tình cờ khi
kiểm tra sức khỏe, hay chụp buồng TC có cản quang nhằm chẩn đoán vô
sinh. Rong kinh, rong huyết là triệu chứng thường gặp nhất, nhất là
trường hợp polype to có cuống dài thòng xuống cổ TC, kèm huyết trắng
nhiều.
Siêu âm TC và hai phần phụ có thể phát hiện polype và xác
định được vị trí, kích thước polype. Chụp buồng TC vòi trứng có cản
quang, giúp thấy rõ hình dạng polype, giúp thấy được một hay nhiều
polype.
Điều trị: cắt polype dưới hướng dẫn của nội soi lòng TC;
một số tác giả đề nghị có thể phối hợp thuốc progesterone để cải thiện
tình trạng cường estrogen.
Tăng sinh nội mạc tử cung
Là
tình trạng của sự tăng sản của lớp NMTC, đặc điểm của sự tăng sản này
là sự gia tăng cả về số lượng lẫn mật độ các thành phần của lớp NMTC.
Tăng sinh NM TC thường do tình trạng cường estrogen hoặc do sự suy giảm
progesterone của hoàng thể. Trên thực tế, chúng ta thường gặp ở các nhóm
đối tượng sau: ở tuổi dậy thì, tăng sinh NMTC do chu kỳ không rụng
trứng. Ở tuổi tiền mãn kinh do suy giảm progesterone của hoàng thể và
nhóm tuổi sau mãn kinh thường là do tăng estrogen ngoại lai vì có dùng
nội tiết thay thế.
Chẩn đoán tăng sinh NMTC, biểu hiện chu kỳ kinh
nguyệt không đều, xuất huyết giữa kỳ kinh, rong kinh, cường kinh. Siêu
âm có sự gia tăng bề dày lớp NMTC. Nội soi buồng TC, cho thấy hình ảnh
như: NMTC dày lên, có những nhú nội mạc bờ không đều, kết hợp nạo sinh
thiết một cách chính xác.
Tăng sinh NMTC ở bé gái không cần điều
trị, cần điều chỉnh chế độ dinh dưỡng hợp lý và nghỉ ngơi điều độ. Đối
với nhóm tuổi tiền mãn kinh cần nạo sinh thiết nội mạc làm xét nghiệm
giải phẫu bệnh, khi NMTC tăng sinh không có tế bào điển hình có thể dùng
progesteron liều cao trong 6 tháng sau đó kiểm tra lại; trường hợp kết
quả giải phẫu bệnh trả lời có sự tăng sinh tế bào NMTC không điển hình,
xử trí cắt TC hoàn toàn.
Teo nội mạc tử cung
Bệnh
lý này xảy ra ở phụ nữ mãn kinh do có sự thiếu hụt nội tiết tố từ buồng
trứng. Teo NMTC ở trong trường hợp này thường đi kèm theo toàn bộ các
cơ quan sinh dục. Ngoài ra, teo NMTC gặp ở phụ nữ đang trong độ tuổi
hoạt động sinh dục do suy estrogen, thể hiện trên lâm sàng là vô kinh
thứ phát, có thể gặp trong trường hợp phụ nữ dùng thuốc tránh thai phối
hợp. Ở hai dạng trên chỉ có teo NMTC, không có kèm sự teo của các cơ
quan sinh dục khác đi kèm.
Chẩn đoán: thường không có biểu hiện
lâm sàng, đôi lúc có ra máu bất thường, lượng ít, tái phát, khám thấy
teo bộ phận sinh dục ngoài gồm teo âm đạo, teo cổ TC.
Điều trị:
chỉ đặt vấn đề điều trị khi có xuất hiện bất thường, thường sử dụng
estrogen liều thấp phối hợp với kháng sinh. Nếu điều trị không kết quả
nên cắt TC toàn phần.
Dính lòng tử cung
Đặc
điểm dính lòng TC xảy ra sau một sang chấn, do sự áp dính vào nhau của
lớp bề mặt thành TC, xảy ra thứ phát sau những thủ thuật nạo lòng TC,
làm mất đi một số đáng kể diện tích lớp NMTC. Khả năng dính lòng TC tăng
cao khi thực hiện những thủ thuật nạo hút trên TC có thai, do lớp NMTC
thường mềm mại và sung huyết trong lúc có thai, dễ làm tổn thương đến tế
bào đáy. Ngoài ra còn gặp những nguyên nhân do nạo sinh thiết, bóc nhân
xơ, phẫu thuật tạo hình cũng làm dính lòng TC.
Vị trí dính lòng
tử cung có thể trung tâm đáy tử cung, ở hai bên hay vùng eo tử cung, hậu
quả của dính lòng tử cung có thể gây vô sinh, khi có thai lại dễ gây
sảy thai, sau sinh nhau cài răng lược hay sót nhau.
Chẩn đoán dính
lòng TC trên lâm sàng biểu hiện thiểu kinh, kinh thưa hay vô kinh, khi
có kinh bị đau bụng nhiều. Chụp lòng TC có cản quang, có hình ảnh
khuyết, có sự biến dạng teo hẹp lòng TC. Soi buồng TC có giá trị xác
định vị trí dày dính kết hợp điều trị.
Điều trị, kết hợp nội soi
buồng TC để điều trị bằng cắt chỗ dày dính sau đó đặt miếng phiến mỏng
silastic trong vòng 10 - 15 ngày, sau đó thay thế bằng vòng tránh thai.
Ngoài ra, có thể kết hợp dùng estrogen một đợt để kích thích sự tái tạo
nhanh chóng lớp NM TC sau khi gỡ dính.