Viêm họng cấp
Viêm
họng cấp tính là loại bệnh khá phổ biến, thường xuất hiện với các bệnh
viêm V. A, viêm amiđan. Bệnh thường khởi phát đột ngột, người bệnh sốt
cao 39 – 40oC, kèm theo đó là nuốt đau, rát họng, khàn tiếng.
Các triệu chứng kèm theo là sụt sịt, tắc mũi và chảy nước mũi nhầy,
tiếng nói khàn nhẹ và ho khan, người bệnh thấy đau lên tai và đau nhói
khi nuốt.
Viêm
họng cấp do virút thường diễn biến trong 3 – 4 ngày, chỉ cần dùng thuốc
điều trị chứng giảm sốt, giảm ho thì bệnh sẽ lui dần. Nhưng nếu viêm
họng do vi khuẩn thì dấu hiệu toàn thân sẽ nặng nề hơn, người bệnh sốt,
mệt mỏi, môi khô, lưỡi bẩn, đặc biệt hay có viêm tấy hạch vùng cổ, hạch
góc hàm sưng, đau… Việc điều trị với loại viêm họng do vi khuẩn hoặc bội
nhiễm sau siêu vi trùng thì phải dùng kháng sinh mới có hiệu quả, dùng
trong 5 – 7 ngày.
Nếu
viêm họng cấp bị bội nhiễm, bệnh nhân có thể gặp các biến chứng viêm
tai, mũi, phế quản… Ở trẻ em, biến chứng viêm họng do liên cầu khuẩn,
trẻ có các dấu hiệu sốt, đau họng, ho, tiếp đến là sưng, nóng các khớp,
đặc biệt là sưng khớp gối, khớp khuỷu. Sưng khớp và khớp di chuyển là
một số yếu tố quan trọng để nhận biết nguy cơ bị thấp tim ở bệnh nhân.
Biến chứng thấp tim cần được điều trị chu đáo, phải theo dõi điều trị
hàng tháng bằng phương pháp tiêm chậm peniciline đến năm 21 hoặc 25
tuổi.
Viêm họng đỏ là bệnh thường gặp khi thay đổi thời tiết, vào mùa lạnh. Bệnh do virút gây ra nên có tốc độ lây lan rất nhanh.
Triệu chứng điển hình là sốt, mệt mỏi, thường sốt đột ngột 39 – 40oC,
đau mình mẩy, kém ăn, trẻ em quấy khóc. Nếu do nhiễm khuẩn thì sẽ có
các biểu hiện nhiễm khuẩn như môi khô, lưỡi bẩn, mạch nhanh, mặt bơ phờ
mệt mỏi.
Người
bệnh thấy đau họng, rát họng khi uống nước hoặc nuốt nước bọt, nhưng
với các chất rắn nuốt ít đau hơn, bệnh nhân khó nuốt, rát họng. Ho là
dấu hiệu thứ hai hay gặp hơn cả, có thể ho từng cơn, ho có đờm, nhầy,
lúc đầu trắng sau đặc vàng có mùi hôi, thay đổi tiếng nói, giọng hơi
khàn, có khi khàn hẳn. Toàn bộ niêm mạc họng đỏ rực, amiđan sưng to, đỏ.
Hạch ở góc hàm sưng, đau.
Viêm họng giả mạc
Chỉ
chiếm 2 – 3% nhưng cần phải cảnh giác vì nó có thể là viêm họng bạch
hầu, một bệnh nặng. Trong trường hợp này, bệnh nhân nhợt nhạt, sốt trên
38,5oC; giả mạc có màu trắng, xám, dai, dính khó bóc, dày,
lan rộng và rất dính vào niêm mạc của amiđan và họng. Có khi giả mạc lan
xuống thanh quản, nhất là ở trẻ nhỏ, gây khó thở cấp (khó thở viêm
thanh quản).
Viêm họng do liên cầu
Bệnh
này gây nhiều biến chứng, nhưng hay gặp nhất là thấp khớp cấp và viêm
cầu thận. Ngoài những biến chứng xa như thấp tim, viêm họng do liên cầu
còn gây biến chứng gần như viêm tai giữa cấp mủ, viêm tấy, áp-xe quanh
amiđan, áp-xe thành bên họng, thành sau họng.
Viêm họng do virút
Bệnh
rất hay gặp. Hầu hết các trường hợp viêm họng do virút đều có thể có
thể tự khỏi trong vòng 4 – 5 này (nếu không có bội nhiễm vi khuẩn). Bệnh
hay kết hợp với viêm kết mạc mắt, rất hay gặp ở các nhà trẻ và có thể
gây thành dịch.
Về
điều trị, nếu là viêm họng do virút thông thường, không có bội nhiễm thì
không cần dùng kháng sinh. Nếu do liên cầu khuẩn, cần điều trị tích cực
bằng kháng sinh và theo dõi biến chứng như thấp tim.
Viêm họng trắng
Là
chỉ các loại viêm họng có giác mạc màu trắng mà ngoài viền là bạch hầu
như đã nói trước. Còn có viêm họng Vincent, còn gọi là viêm họng loét,
chỉ chiếm khoảng 5% và thường một bên. Bệnh hay gặp ở người lớn tuổi
hoặc người già, giả mạc thường mỏng, dễ bong, khi bóc giả mạc phía dưới
là một lớp loét nông.
Ngoài ra, viêm họng trắng thường gây nổi hạch ở vùng cổ.
Viêm họng hạt
Viêm
họng mạn tính tái phát nhiều lần sẽ dẫn đến viêm họng hạt. Bệnh không
nặng nhưng gây khó chịu, nhất là trong giao tiếp. Bệnh kích thích họng
gây khó chịu. Người bệnh lúc nào cũng thấy vướng trong họng, ngứa họng,
phải đằng hắng hay ho nhẹ một tiếng mới hết; và chỉ một lúc sau (vài
giờ, thậm chí chỉ mấy phút) lại bị ngứa họng, lại phải đằng hắng hay ho
nhẹ một cái. Bệnh diễn biến một thời gian dài (vài tháng, có khi vài
năm). Tình trạng ngứa họng ngày càng nặng hơn, việc đằng hắng không còn
tác dụng nữa. Bệnh nhân ho khan, thường không có đờm, có lúc phải ho cả
tràng, thậm chí ho dài không kịp thở.
Điều
trị viêm họng hạt tương đối khó. Việc đốt điện chỉ tạm thời loại bỏ một
số hạt to, gây kích thích ngứa họng mà thôi. Nếu chỉ đốt hạt đơn thuần
mà không điều trị viêm nhiễm xung quanh thì bệnh sẽ tái phát như cũ. Để
điều trị viêm họng hạt, trước hết phải loại bỏ các ổ vi khuẩn xung
quanh; phải tìm ra nguyên nhân chính dẫn đến viêm họng hạt để chữa một
cách triệt để, ví dụ: điều trị viêm mũi, viêm xoang, viêm khí phế quản,
viêm amiđan… để loại bỏ ổ vi khuẩn từ một trong những nơi này.
Viêm họng mạn tính – trong hội chứng trào ngược
Đây
là một bệnh ít người biết đến nhưng lại khá phổ biến. Trước đây, người
ta cho rằng nguyên nhân chủ yếu lại là các yếu tố như rượu, thuốc lá,
hơi độc, khói, bụi, hiện nay chủ yếu là do bệnh lý loét dạ dày thực
quản, hiện tượng viêm họng và amiđan là do dịch trào ngược từ dạ dày vào
thực quản đưa lên tạo thành bệnh. Các triệu chứng lâm sàng thường ít,
không ảnh hưởng đến toàn thân, không sốt, người chỉ hay mệt mỏi. Dấu
hiệu quan trọng nhất là rát họng, nuốt vướng, đặc biệt ho từng cơn hoặc
liên tục, ho nhiều, ho khan có thể có ít đờm làm bệnh nhân rất khó chịu
phải khạc nhổ suốt ngày./.
Theo Bác sĩ Gia đình