Viêm ruột thừa là gì ?
Ruột
thừa là một túi nhỏ nhô ra hình con giun của manh tràng (đoạn đầu của
ruột già ), dài khoảng vài cm. Nó nằm ở phần dưới phải của ổ bụng. Viêm
ruột thừa (appendicitis) là sự viêm của ruột thừa. Nguyên nhân của sự
viêm này thường là nhiễm trùng sau nơi tắc nghẽn của ruột thừa. Ðiều này
có thể do một mảnh phân cứng (sỏi phân ) mắc kẹt ở ruột thừa. Thêm vào
đó, mô bạch huyết ở ruột thừa trở nên bị viêm và gây tắc ruột thừa. Ở
nhiều trường hợp, nguyên nhân viêm cụ thể vẫn không được biết.
Khác
với các tổn thương do chấn thương, viêm ruột thừa là nguyên nhân đau
bụng thường gặp nhất cần phải phẫu thuật cấp cứu. Phần lớn các trường
hợp viêm ruột thừa xuất hiện ở lứa tuổi từ 11 đến 20, mặc dù nó có thể
xuất hiện ở tất cả các nhóm tuổi.
Viêm ruột thừa được chẩn đoán như thế nào ?
Mặc
dù có các kỹ thuật X quang mới, như CT scan và siêu âm, chẩn đoán viêm
ruột thừa có thể vẫn còn hơi khó khăn. Hỏi bệnh sử và khám lâm sàng nói
chung sẽ đưa đến chẩn đoán chính xác.
Bệnh nhân có thể có nhiệt độ
tăng. Bệnh nhân thường có phản ứng vừa đến nặng ở phần bụng dưới phải
khi bác sĩ ấn chẩn vùng này. Bệnh nhân cũng thường có phản ứng dội.
Nghĩa là khi bác sĩ ấn vào bụng rồi buông sức căng ra đột ngột thì đau
sẽ nổi bật hơn đau lúc ấn căng.
Bệnh nhân viêm ruột thừa có những triệu chứng gì ?
Triệu
chứng của viêm ruột thừa lúc đầu có thể khó phân biệt với nhễm siêu vi
đường ruột mà thường được gọi là viêm dạ dày ruột. Các triệu chứng có
thể bao gồm đầy bụng mơ hồ, khó tiêu và đau bụng ít thường được cảm nhận
ở vùng quanh rốn (nút lưng quần ).
Khi
nhễm trùng nặng hơn, đau trở nên nổi bật hơn ở phần dưới phải của bụng.
Bệnh nhân thường có buồn nôn, nôn và biếng ăn. Ðau thường liên tục và
ngày càng nặng. Bệnh nhân có thể tiêu chảy, sốt và lạnh run.
Những
triệu chứng này tiến triển vài giờ đến vài ngày. Tuy nhiên, nhiều bệnh
nhân có thể không kể lại thứ tự các triệu chứng được nêu ra ở trên. Vì
thế một chẩn đoán viêm ruột thừa chính xác thường có thể gặp khó khăn.
Ðiều này có thể đúng ở trẻ em rất nhỏ và ở bệnh nhân già.
Nhiều
bệnh cảnh khác có thể giống viêm ruột thừa như viêm dạ dày ruột, sỏi
thận, nhiễm trùng tiểu, và một bệnh viêm ruột được gọi là bệnh Crohn. Ở
phụ nữ, các bệnh cảnh như u nang buồng trứng và nhiễm trùng khung chậu
có thể giống với viêm ruột thừa.
Nếu
nhiễm trùng của ruột thừa không được điều trị, ruột thừa sẽ vỡ hoặc
thủng. Ðiều này đưa đến các biến chứng như viêm toàn bộ ổ bụng (viêm
phúc mạc), hình thành áp xe và tắc ruột.
Viêm ruột thừa được điều trị như thế nào ?
Nếu
viêm ruột thừa được chẩn đoán hoặc rất nghi ngờ, điều trị tốt nhất là
phẫu thuật loại bỏ ruột thừa (cắt ruột thừa). Người ta không biết ruột
thừa đóng vai trò gì trong cơ thể người và cũng không biết những vấn đề
sức khoẻ về lâu dài do việc loại bỏ ruột thừa gây ra.
Cắt
ruột thừa cổ điển được thực hiện với gây mê. Một đường rạch nhỏ ở phần
dưới của ổ bụng bên phải và qua đó ruột thừa được loại bỏ. Gần đây, cắt
bỏ ruột thừa qua nội soi ổ bụng đang được thực hiện bởi vài phẫu thuật
viên. Cả hai phương pháp là những thủ thuật tốt và việc lựa chọn phương
pháp nào phù hợp nhất được quyết định tốt nhất bởi phẫu thuật viên dựa
trên nền tảng cá nhân.
Nếu
ruột thừa không bị vỡ (thủng) tại thời điểm phẫu thuật, bệnh nhân
thường được cho về nhà trong vòng 1 đến 2 ngày. Nếu ruột thừa bị vỡ,
thời gian nằm ở bệnh viện có thể từ 4 đến 7 ngày tuỳ vào mức độ trầm
trọng của thủng và viêm phúc mạc. Kháng sinh đường tĩnh mạch được cho
trong khi nằm viện để giúp tránh nhiễm trùng thêm và tạo áp xe.
Thỉnh
thoảng, bệnh nhân có thể không đến bác sĩ cho đến khi viêm ruột thừa đã
hiện diện trong nhiều ngày, thậm chí vài tuần. Trong trường hợp này,
một ổ áp xe thường được hình thành. Nếu ổ áp xe nhỏ, nó có thể được điều
trị ban đầu bằng kháng sinh. Nói chung, ổ áp xe cần phải được dẫn lưu.
Nó thường được thực hiện với sự hỗ trợ của siêu âm, hoặc chụp cắt lớp
điện toán. Thường không an toàn để loại bỏ ruột thừa khi một ổ áp xe
được hình thành rõ. Ruột thừa được loại bỏ từ vài tuần đến vài tháng sau
khi ổ áp xe đã hồi phục. Cách này được gọi là cắt ruột thừa lúc nghĩ (
hay cắt ruột thừa thì 2) và thực hiện để tránh đợt viêm ruột thừa khác.
Theo BSGĐ