Theo thống kê, hàng năm số người tử vong do các bệnh tim mạch
đứng đầu trong các bệnh. Ngoài dùng thuốc thì ăn uống là liệu pháp có
hiệu quả trong việc phòng và điều trị các bệnh về tim mạch.Nhiều người chỉ chú ý vào một khía cạnh là hạ cholesterol máu và phần
lớn là hy sinh các món khoái khẩu để thực hiện mục tiêu này. Trong khi
đó, các chuyên gia về tim mạch lại khuyên rằng, để có một trái tim khỏe
mạnh, không nhất thiết phải kiêng khem quá khắt khe, nếu thực hiện được
các mục tiêu trong việc ăn uống.
Giảm đáng kể lượng mỡ trong chế độ ăn
Không phải vô tình mà điều khuyến cáo đầu tiên liên quan đến chất béo
trong chế độ ăn. Ăn quá nhiều chất béo đưa đến 2 vấn đề nghiêm trọng:
tăng cholesterol và béo phì, cả hai yếu tố đều làm tăng nguy cơ bệnh
tim. Chế độ ăn nhiều mỡ cũng có liên quan đến bệnh tiểu đường và ung thư
đại tràng.
Vì những lý do đó cần giảm lượng mỡ trong chế độ ăn uống dưới 30%
tổng năng lượng, và đặc biệt, lượng chất béo bão hòa xuống dưới 10%.
Chất béo bão hòa cần phải hạn chế và nó trực tiếp làm tăng cholesterol
máu và gây chứng xơ vữa động mạch.
Giảm lượng cholesterol

Tăng cholesterol là một yếu tố nguy cơ rõ ràng của bệnh mạch vành.
Khi cholesterol máu lên 20ml/dl nguy cơ bệnh tim tăng vọt. Trên quan
điểm thiết thực, điều trị hàng đầu của tình trạng tăng cholesterol là
giảm tiêu thụ chất béo bão hòa lẫn cholesterol.
Tăng lượng chất bột chiếm 50 – 55% tổng số năng lượng
Chất bột đặc biệt là chất bột phức hợp trong trái cây, các loại rau
và các loại hạt là cốt lõi của chế độ ăn lành mạnh. Nguồn quan trọng của
các tinh bột phức hợp là các sản phẩm nguyên hạt như bánh ngũ cốc
(thường dùng để ăn sáng), cơm, các loại mì ống và bánh mì.
Ngoài việc cung cấp các tinh bột phức hợp, các loại rau quả, trái cây
và hạt nguyên vỏ còn chứa nhiều chất rất có ích cho sức khỏe tim mạch,
ví dụ như các chất xơ. Tình trạng ăn thiếu chất xơ có liên hệ rõ ràng
với tăng nguy cơ bệnh tim. Mọi người cần 25g chất xơ từ thức ăn tự nhiên
mỗi ngày và sự thật đáng buồn là phần lớn mọi người chỉ ăn 50% trong số
đó.
Giảm lượng muối
Mặc dù các hướng dẫn dinh dưỡng khuyến cáo lượng muối tối đa tiêu thụ
mỗi ngày là 3g, 1 người lớn trung bình ăn gấp đôi số này (từ 6 đến 8g
mỗi ngày). Phần lớn dưới dạng muối rắc thêm vào trong lúc ăn, mặc dù
trong thức ăn chế biến sẵn cũng đã chứa nhiều muối.
Lý do chính để hạn chế lượng muối ăn là mối liên quan của nó với bệnh
cao huyết áp. Nếu các bệnh nhân cao huyết áp hạn chế tối đa lượng muối
ăn vào và kiểm soát cân nặng, nhiều người trong số họ có thể kiểm soát
huyết áp mà không cần đến thuốc.
Hạn chế lượng đạm ở khoảng 15% tổng số năng lượng
Đối với người mắc bệnh tim mạch, trong khẩu phần ăn, lượng đạm chỉ
nên chiếm 15% tổng nhu cầu năng lượng. Khuyến cáo được đưa ra đối với
người bình thường là lượng đạm cần chiếm 30% tổng số năng lượng.
Uống ít rượu
Nếu bạn uống rượu thì nhớ uống ít. Rượu có tác dụng phức tạp đối với
sức khoẻ tim mạch. Uống rượu ít hiện đã chứng minh là làm giảm nguy cơ
lên cơn đau tim.
Lý do tại sao việc uống rượu ít có thể làm giảm nguy cơ lên cơn đau
tim có thể được giải thích qua hai tác dụng của rượu. Thứ nhất, rượu làm
tăng nồng độ HDL trong máu (loại cholesterol tốt), giúp giảm nguy cơ
bệnh tim. Thứ hai, vài loại rượu có khả năng hạn chế sự đông máu là quá
trình nguy hiểm đưa đến cơn đau tim.
Hiện người ta chưa xác định chính xác chất nào có trong rượu vang đỏ
có tác dụng hạn chế đông máu nói trên, nhưng có một loại hợp chất gọi là
Flaconoit có trong trái nho, tồn tại lâu trong rượu vang đỏ hơn rượu
vang trắng, có vai trò quan trọng làm hạn chế sự đông máu.
Kiểm soát trọng lượng
Béo phì là yếu tố nguy cơ gây nhiều hậu quả cho sức khoẻ, đặc biệt là
bệnh tim. Khoảng 15% tử vong liên quan đến béo phì là do tăng nguy cơ
bệnh tim. Do vậy việc giảm tiêu thụ năng lượng sẽ làm giảm nguy cơ béo
phì.
Trái cây và rau quả còn chứa nhiều chất giúp giảm nguy cơ bệnh tim
mạch và ung thư, bao gồm cả các chất chống oxy hóa. Nhưng đáng ngạc
nhiên là chỉ có 10% dân chúng đạt được mức này.