Ung thư phổi là dạng ung thư thường gặp ở nam giới và nguyên
nhân gây bệnh chủ yếu là thuốc lá. Cho đến nay ung thư phổi vẫn
là bệnh ung thư khó điều trị vì thường phát hiện muộn.
Thêm vào đó, ung thư phổi có khuynh hướng diễn tiến nhanh, dễ
di căn và ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng hô hấp của người
bệnh. Khi ở vào giai đoạn cuối, khả năng điều trị khỏi gần như
không còn.
Các triệu chứng nhận biết
Triệu chứng hay gặp nhất của ung thư phổi là ho kéo dài. Thở ngắn, ho
có đờm lẫn máu và đau ngực cũng có thể là dấu hiệu chỉ điểm của ung thư
phổi. Một thời gian sau bệnh nhân có thể gầy sút, mệt mỏi, thở nông,
khàn giọng, khó nuốt, đau xương, thở khò khè và tràn dịch màng phổi.
Cần chú ý rằng có khoảng 13% bệnh nhân không biểu hiện bất cứ một triệu chứng nào như trên khi khối u của họ được phát hiện.
Những nguyên nhân gây ung thư phổi
Hút thuốc lá là nguyên nhân chính gây ung thư phổi. 90% bệnh nhân ung
thư phổi do hút thuốc lá. Mặc dù còn 4% bệnh nhân bị ung thư phổi mà
không hút thuốc, nhưng vài người trong số họ đã hít một số lượng đáng kể
khói thuốc lá (hít khói của người hút thuốc lá). 90% bệnh nhân ung thư
phổi đã hút hơn 10 điếu thuốc lá/ ngày trong 20 năm.
Những công
nhân tiếp xúc với bụi silic có nguy cơ cao bị ung thư phổi. Nguy cơ này
sẽ tăng lên nhiều lần nếu bệnh nhân có hút thuốc lá.
Những tiếp xúc nghề nghiệp khác liên quan tới ung thư phổi bao gồm tiếp xúc với quá trình luyện thép, ni-ken, crôm và khí than.
Tiếp
xúc với tia phóng xạ có nguy cơ bị các bệnh ung thư trong đó có cả ung
thư phổi. Những công nhân mỏ uranium, fluorspar và hacmatite có thể tiếp
xúc với tia phóng xạ do hít thở không khí có chứa khí radon.
Ngoài
ra, nguy cơ ung thư phổi liên quan đến các chất gây ô nhiễm không khí.
Các nghiên cứu gần đây thấy ung thư phổi có liên quan yếu tố gen.
Các phương pháp điều trị
Phẫu thuật loại bỏ khối u:
Có hiệu quả nhất khi khối u còn nhỏ và chưa có di căn. Bệnh nhân có
thể trạng tốt để phẫu thuật. 20% bệnh nhân được điều trị theo phương
pháp này. Những bệnh nhân được phẫu thuật lấy toàn bộ khối u có thời
gian sống thêm lâu dài.
Điều trị tia xạ:
Phương pháp này được áp dụng cho 35% bệnh nhân. Mục đích là phá hủy
khối u khi nó còn nhỏ (thường có đường kính 6 cm) và không có di căn.
Đối với những khối u lớn thì nó làm giảm sự phát triển của khối u.
Phương pháp điều trị này kéo dài đời sống của bệnh nhân nhưng ít khi
chữa khỏi bệnh.
Điều trị bằng hóa chất:
Có tác dụng tốt ở hầu hết bệnh nhân ung thư phổi loại tế bào nhỏ và
đôi khi ở những loại ung thư phổi khác. Những tiến bộ gần đây về hóa trị
liệu đã làm giảm đáng kể những tác dụng phụ so với trước đây.
Điều trị hỗ trợ:
Chỉ áp dụng cho khoảng 1/3 bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn muộn
không điều trị được bằng các phương pháp kể trên, bao gồm chăm sóc bệnh
nhân, điều trị triệu chứng và làm giảm đau.
Cần có một chế độ ăn thích hợp, nghỉ ngơi, chăm sóc về mặt y tế và giải trí đôi khi giúp ích cho bệnh nhân.
Ở hầu hết các bệnh nhân ung thư, kết quả điều trị tốt nhất khi ung thư được phát hiện sớm và điều trị kịp thời.
Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị mới bao gồm đưa chất đồng vị
phóng xạ vào phế quản, điều trị bằng tia xạ, điều trị bằng laser, các
thuốc hóa chất mới, những nghiên cứu sinh học phân tử đang được tiến
hành và đã thu được một số kết quả.